Vũ trụ học và những vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu

Thứ hai - 26/09/2016 23:53
Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực vũ trụ học đã cho thấy có mối liện hệ quan trọng giữa chu kỳ Mặt Trời và khí hậu toàn cầu. Có các mối tương quan lớn giữa hoạt động của Mặt Trời và nhiệt độ của Trái Đất, giữa thông lượng tia vũ trụ với thăng giáng nhiệt độ và sự hình thành, phát triển các lớp lớp mây. Bụi vũ trụ, chủ yếu từ sao chổi, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn bức xạ Mặt Trời đến bề mặt Trái Đất trong 50 năm qua suy giảm trung 2,7% cho mỗi thập kỷ. Trái Đất của chúng ta có thể đang bước vào giai đoạn đầu của thời kỳ lạnh giá mới sẽ kéo dài không dưới hai thế kỷ. Góp phần thực hiên Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ của nước ta đến năm 2020 và những năm tiếp sau, tác giả đã đề xuất việc nghiên cứu tổ chức tiến hành các quan trắc vết đen mặt trời, bụi vũ trụ và tia vũ trụ trên khu vực khả thị ở Việt Nam nhằm phục vụ cho các nghiên cứu biến đổi khí hậu trong những thời kỳ tiếp theo. Trước mắt có thể tiến hành việc nghiên cứu xác định mối tương quan của hoạt động Mặt Trời với sự hình thành các hiện tượng ENSO trên vùng nhiệt đới Thái Bình Dương, sự biến động các hoàn lưu đại dương và các hiện tượng thời tiết, khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam.
Thảm họa môi trường một tương lai tiềm ẩn
Thảm họa môi trường một tương lai tiềm ẩn
N  hiều nhà khoa học  cho rằng hoạt động của con người đã và đang làm biến đổi khí hậu toàn cầu. Nguyên nhân chủ yếu của sự biến đổi đó là sự tăng nồng độ khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính. Đặc biệt quan trọng là khí CO2 được tạo thành do sử dụng năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch (như dầu mỏ, than đá, khí tự nhiên…), phá rừng và chuyển đổi sử dụng đất. Dưới sự bão trợ và thúc đẩy của Liên hiệp quốc trên trường quốc tế đã tìm được sự đồng thuận lớn phản ánh qua Hội nghị COP21 tại Pari ngày 12/12/2015. Đây là một Thỏa thuận lịch sử vì lần đầu tiên tất cả 196 bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về chống biến đổi khí hậu đã đi đến một thỏa thuận buộc tất cả các nước cắt giảm lượng phát thải khí carbon. Bản Thoả thuận một phần mang tính ràng buộc pháp lý, một phần mang tính tự nguyện. Mục tiêu quan trọng nhất của Thỏa thuận này là giữ mức tăng nhiệt độ toàn cầu trong thế kỷ này dưới 2 độ C, rồi tiếp đó cùng thúc đẩy nỗ lực để xuống còn 1,5 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp. Sự kiện này có ý nghĩa to lớn trong vấn đề an sinh của Xã hội Loài Người. Tuy nhiên việc nghiên cứu và dự báo sự Biến đổi Khí hậu Toàn cầu cần được xem xét qua những lăng kính khoa học khác nhau. Vì đây là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến an sinh và sự tồn vong của Xã hội Loài Người.
T  hật ra Biến đổi Khí hậu do 2 nguyên nhân: do sự tác động của những quá trình tự nhiên và do ảnh hưởng của con người. Để dự báo sự Biến đổi Khí hậu Toàn cầu ảnh hưởng trực tiếp sự sống và phát triển của xã hội Loài Người, chúng ta cũng cần xem xét nghiêm túc cả sự tác động của các hiện tượng tự nhiên đến thời tiết và khí hậu trên hành tinh của chúng ta.
    Trái Đất của chúng ta nằm trong Thái Dương hệ, là một hành tinh của hệ Mặt Trời. Cho nên mọi hoạt động của nó chủ yếu chịu ảnh hưởng của những tác động từ Mặt Trời. Bức xạ của Mặt trời là nguồn cung cấp năng lượng đảm bảo duy trì nhiệt độ thuận lợi cho sự sống phát triển trên Trái Đất. Chu kỳ bức xạ Mặt trời cho phép phán đoán về những thời kỳ ấm lên hay lạnh đi trong quá khứ và dự báo các thời kỳ tương lai của khí hậu toàn cầu. Chu kỳ hoạt động 11 năm của Mặt Trời, đặc trưng bởi việc xuất hiện những vết đen và chu kỳ 22 năm, đặc trưng cho chu kỳ hoạt động từ trường của Mặt Trời. Ngoài ra còn có chu kỳ 200 năm, là chu kỳ lạnh giá. Theo Giáo sư TSKH Toán- Lý Habibullo Abdusamatov - Chủ nhiệm dự án “Đo lường thiên văn” Viện Hàn lâm Khoa học Nga, thực chất là nghiên cứu hoạt động của Mặt trời, cho rằng,  chúng ta đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ lạnh giá mà đỉnh điểm của nó là vào năm 2055.Thời kỳ lạnh giá mới này sẽ kéo dài không dưới 200 năm.
    Các nhà khoa học trường Đại học Auckland ở New Zealand đã phân tích độ cao những đỉnh mây của các tầng mây toàn cầu trong 10 năm, từ năm 2000 đến 2010, bằng số liệu lấy từ thiết bị đo bức xạ quang phổ tạo hình nhiều góc MISR trên tàu vũ trụ Terra của NASA được phóng lên trong năm 1999. Máy dò MISR sử dụng 9 camera ở những góc độ khác nhau để chụp hình ảnh mây quanh địa cầu, giúp tính toán được độ cao và chuyển động của mây. Kết quả phân tích cho thấy độ cao mây bình quân toàn cầu đã giảm khoảng 1% trong thập kỷ vừa qua, tức là giảm đi khoảng 30 đến 40 mét. Sự sụt giảm độ cao mây bình quân toàn cầu chắc chắn đã phản chiếu sự biến động thờì tiết toàn cầu. Nguyên nhân nào từ vũ trụ cần phải được nghiên cứu tìm tòi. Sự nóng lên của Trái Đất phải làm gia tăng các hoạt động đối lưu, ngược lại sự lạnh đi của nó sẽ làm giảm đi các hoạt động đối lưu trong khí quyển. Sự sụt giảm độ cao mây bình quân toàn cầu phải chăng là dấu hiệu của sự lạnh đi của Trái Đất ?
    Các nhà khoa học của NSF (National Science Foundation) đã tiến hành nghiên cứu tìm ra mối tương quan giữa chu kỳ Mặt trời và khí hậu toàn cầu. Đã phát hiện được hoạt động cực đại của Mặt trời có những ảnh hưởng đến hiện tượng La Nina và El Nino ở khu vực nhiệt đới ở Thái Bình Dương. Những nghiên cứu này có thể dọn đường cho những dự báo về nhiệt độ cũng như những biến động thời tiết ở những thời điểm nhất định trong chu kỳ 11 năm của Mặt Trời.
    "Những kết quả thu được đáng ngạc nhiên ở chỗ chúng chỉ ra một chuối các sự kiện xảy ra một cách khoa học có liên hệ với chu kỳ của Mặt Trời và sự xuất hiện ENSO, trên vùng nhiệt đới Thái Bình Dương ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng thay đổi khí hậu trên toàn cầu." GS. Gerld Meehl lưu ý thêm rằng: "Khi những hoạt động Mặt Trời đạt đỉnh, sẽ có những ảnh hưởng rất lờn, nhưng thường người ta chưa chú ý đến những tác động của nó lên hệ thống thời tiết toàn cầu".
    Theo các nhà khoa học vũ trụ , một vấn đề quan trọng cần phải chú ý là ta chưa thể xác định được chính xác mức độ liên hệ giữa sự gia tăng nồng độ khí cacbonic trong khí quyển và sự gia tăng nhiệt độ của Trái đất. Mức độ gia tăng nhiệt độ toàn cầu trong thế kỷ qua vẫn nằm trong khoảng thăng giáng nhiệt độ quan sát được trong các thời kỳ trước thời đại công nghiệp. Đánh giá ảnh hưởng của lượng CO2 phát thải vào bầu khí quyển lên khí hậu trái đất rất khó. Những hiệu ứng sơ cấp (độ truyền qua của khí quyển) càng dễ dàng đánh giá bao nhiêu thì những hiệu ứng thứ cấp (hiệu ứng phản hồi) lại phức tạp, khó hiểu và khó nhận biết bấy nhiêu. Một ví dụ về hiệu ứng phản hồi: khi nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên 1oC thì lượng nước bốc hơi từ các đại dương sẽ tăng nhiều hơn, sẽ có nhiều mây hơn và nhiệt độ cũng sẽ giảm đi. Có nhiều yếu tố phản hồi phải tính đến như các loại mây khác nhau có tác động khác nhau, sự tồn tại của hệ thực vật, v.v... Khi tính đến tất cả các hiệu ứng đó thì việc đánh giá trở nên rất phức tạp chứ không đơn giản là tăng lượng CO2 thì nhiệt độ sẽ tăng. Vấn đề ở chỗ mức độ ảnh hưởng của các hiệu ứng thứ cấp này có thể tương đương với hiệu ứng sơ cấp?
    Qua các nghiên cứu về khí hậu trong các thế kỷ trước thế kỷ XX, người ta tìm ra mối tương quan lớn giữa hoạt động của Mặt Trời và nhiệt độ của Trái Đất. Rõ ràng, biến đổi về độ sáng của Mặt Trời không thể tạo nên mối tương quan này vì sự biến đổi đó rất nhỏ. Trên thực tế, để đánh giá mức độ hoạt động của Mặt Trời người ta sử dụng một thông số hết sức quan trọng là số lượng vết đen mặt trời có chu kỳ dao động 11 năm (chu kỳ mặt trời).
    Tuy nhiên, dường như tia vũ trụ lại có thể đưa ra lời giải thích phù hợp cho mối liên hệ này. Sự phát xạ từ Mặt Trời (gió mặt trời và các tai lửa) biến đổi rất mạnh trong suốt chu kỳ mặt trời nhưng năng lượng của chúng không đủ để vượt qua lá chắn do từ trường trái đất tạo nên, và do đó không thể đóng vai trò trực tiếp chi phối khí hậu trái đất. Mặc dù vậy, chúng lại mang theo từ trường mạnh hơn nhiều so với từ trường của lưỡng cực từ Mặt Trời, làm ảnh hưởng đến từ trường trong Thái dương hệ và do đó ảnh hưởng đến quỹ đạo của các tia vũ trụ tới Trái Đất.
    Tia vũ trụ, thành phần chủ yếu là proton, có phân bố năng lượng tuân theo quy luật hàm mũ ~ E 2,7 và phổ năng lượng của chúng bị cắt tại các vùng năng lượng thấp bởi hiệu ứng chắn do từ trường trái đất gây ra. Do đó, chỉ những tia vũ trụ có năng lượng đủ lớn mới có khả năng đi sâu vào bên trong bầu khí quyển. Ngưỡng cắt này thay đổi theo vĩ độ, đạt giá trị cực đại 17 GeV tại Việt Nam và khoảng 40 GeV ở châu Âu và Bắc Mỹ. Hoạt động của Mặt trời thay đổi sẽ trực tiếp dẫn đến sự thăng giáng ngưỡng cắt năng lượng tia vũ trụ, kết quả là luôn tồn tại một mối tương quan giữa tỷ lệ các tia vũ trụ đo được trên mặt đất và mức độ hoạt động của Mặt trời.

BieuDoMattroi

Hình 2. Mức độ hoạt động của Mặt trời trong bốn thế kỷ gần đây.
 
    Chu kỳ hoạt động của Mặt trời trung bình là 11 năm nhưng có hai thời kỳ ( Cực tiểu Maunder  và Cực tiểu Dalton ) hoạt động biến đổi khá chậm chưa rõ nguyên nhân ( hình trên ). Mối tương quan giữa thông lượng tia vũ trụ với thăng giáng nhiệt độ (hình dưới bên phải) và với lớp mây tầng thấp (hình dưới bên trái).
    Nghiên cứu quá trình hình thành mây trong khí quyển giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về vai trò của tia vũ trụ đối với khí hậu trái đất. Khi tia vũ trụ đi vào bầu khí quyển chúng tương tác với các nguyên tử, phân tử và tạo ra vô số các hạt tích điện thứ cấp – hiện tượng này được gọi là mưa rào khí quyển. Các hạt này tác động đến gần như toàn bộ quá trình ion hóa trong khí quyển. Sự hình thành mây chính là sự ngưng tụ một phần hơi nước có trong khí quyển ở điều kiện nhiệt độ và áp suất thích hợp. Quá trình ngưng tụ muốn xảy ra nhanh chóng và thuận lợi thì trong không khí cần phải có các hạt nhân ngưng kết để các phân tử nước bám vào. Trong thực tế, các phân tử hoạt động và các gốc tự do (kích thước cỡ 10−9m - nanomet) nhóm lại với nhau tạo thành các hạt nhân ngưng kết.
    Ở giai đoạn đầu chúng lớn dần lên (đường kính cỡ hàng chục nanomet) chủ yếu do sự bồi đắp từ các phân tử khác và quá trình phát triển sau đó lại nhờ sự kết tụ để tạo thành các hạt có kích thước lớn hơn (đường kính cỡ hàng trăm nanomet đến micromet ~ 10-6 m). Khi chúng đạt đến kích thước này, các phân tử nước tiếp tục bám vào và giọt nước được hình thành, quá trình này cứ tiếp diễn cho đến khi các giọt nước đạt đến đường kính từ 10 đến 100 micromet: chúng tạo thành những đám mây. Nếu tiếp tục phát triển để đạt tới đường kính khoảng 1-2 mm, chúng sẽ rơi xuống mặt đất và tạo thành mưa. Như vậy, tất cả các giai đoạn của quá trình hình thành mây đều được đặc trưng bởi hiện tượng ngưng tụ bồi đắp. Quá trình ion hóa do tia vũ trụ gây ra trong không khí bổ sung lực hút tĩnh điện có cường độ lớn hơn nhiều so với lực tương tác giữa các phân tử (lực Van Der Waals) giúp cho quá trình bồi đắp diễn ra thuận lợi hơn. Thật đáng tiếc kiến thức về các hiện tượng nêu trên còn hạn chế không cho phép chúng ta đánh giá chính xác vai trò của tia vũ trụ trong quá trình hình thành mây. Hiện nay, trên thế giới nhiều Phòng Thí nghiệm đang tiến hành tìm hiểu cơ chế chi phối khí hậu trên Trái Đất. Nếu xác định được sự gia tăng hoạt động của Mặt Trời sẽ làm cho thông lượng tia vũ trụ có nguồn gốc Thiên Hà đến Trái Đất giảm, dẫn đến lớp mây tầng thấp giảm thì mối tương quan của nó với sự gia tăng nhiệt độ Trái Đất sẽ được chứng minh.
    Theo Victor Clube cứ mỗi 5 – 10 thế hệ, Loài Người gặp phải nguy cơ cao của những chấn động toàn cầu là do một đoàn các mảnh vụn sao chổi “ kiểu Shoemaker-Levy ” dẫn đến hàng loạt những va chạm giữa Trái Đất với những thiên thạch dưới 1 km. Với nguy cơ là khoảng 10%, các chấn động toàn cầu có thể xảy ra dưới dạng :  (a) nhiều vụ bắn phá cỡ megaton, (b) suy thoái khí hậu thông qua tích lũy bụi ở tầng bình lưu, có thể dẫn tới kỷ nguyên băng hà, và (c) hậu quả dịch bệnh không kiểm soát được.
    Theo Pierre Lescaudron và Laura Knight-Jadczyk tối đi toàn cầu là sự suy giảm của lượng bức xạ mặt trời nhận được trên bề mặt Trái Đất trong điều kiện thời tiết tốt. Một trong những nguyên nhân chính của sự tối đi toàn cầu là bụi trong khí quyển. Rất nhiều nhà khoa học đã chứng minh rằng một quá trình tối đi toàn cầu đã và đang diễn ra trong nhiều thập kỷ. 
    Có một số tranh luận về việc liệu bụi trong khí quyển có gây ra một hiệu ứng ấm lên trên hành tinh này (vì nó hấp thụ nhiều bức xạ hơn nó phản xạ), hay nó gây ra một hiệu ứng lạnh đi (vì nó phản xạ nhiều hơn nó hấp thụ). Năm 2008, nhà khoa học khí quyển Richard  Hansell kiểm nghiệm và đo đạc ảnh hưởng tổng thể của bụi trong khí quyển đã đưa ra kết luận : Mặc dù bụi trong khí quyển vừa hấp thụ vừa phản xạ bức xạ mặt trời, về tổng thể nó gây ra một hiệu ứng lạnh đi: Phân tích cho thấy chỉ hơn nửa hiệu ứng làm lạnh của bụi được bù đắp bởi hiệu ứng làm ấm của nó. Phát hiện này, công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Địa Vật lý (Journal of Geophysical Research), giúp củng cố sự hiểu biết của các nhà khoa học về cách mà bụi tác động lên sự biến động của độ ẩm trong khí quyển và nhiệt độ bề mặt trên khắp hành tinh.
    Như có thể thấy trong hình dưới, các nhà khoa học từ Viện Khoa học Đất, Nước và Môi trường phát hiện có sự suy giảm đáng kể, trung bình toàn cầu là 2,7% cho mỗi thập kỷ, trong lượng bức xạ mặt trời đến được bề mặt Trái Đất trong 50 năm qua

Độ giảm bức xạ mặt trời từ

© Stanhill & Cohen
Độ giảm bức xạ mặt trời từ 1950 đến 2000

    Trong thập kỷ 90, xảy ra sự đảo ngược và hành tinh của chúng ta trải qua sự sáng lên tại một số vùng. Thế rồi, sau năm 2000, sự tối đi toàn cầu lại được khởi động lại và trở nên hỗn loạn hơn, với một số châu lục trải qua xu hướng ngược với xu hướng chung. 
    Theo khoa học chính thống, sự tối đi toàn cầu là do con người, gây ra bởi các hạt bụi nhỏ và khí lơ lửng trong khí quyển do công nghiệp hóa. Sự đảo ngược được nhận thấy trong thập kỷ 90 được cho là do lệnh cấm nhiều loại khí và các biện pháp chống ô nhiễm khác. Tuy nhiên, một bài viết xuất bản vào năm 2005 cho thấy rằng trong giai đoạn 1986 - 2000, mặc dù có sự tối đi ở mức độ nhẹ trên đất liền, sự sáng lên xảy ra chủ yếu trên các đại dương. 
    Nếu hoạt động của con người thực sự là nguyên nhân của sự tối đi toàn cầu, và sự cắt giảm trong nhiều loại khí con người sử dụng là nguyên nhân của sự sáng lên quan sát được trong thập kỷ 90, thì sự sáng lên trên đất liền lẽ ra phải được quan sát thấy, và có thể là sự sáng lên trễ hơn trên các đại dương (do lưu thông không khí), vì hầu hết các nguồn ô nhiễm công nghiệp nằm trên đất liền. Tuy nhiên, ở đây ta thấy hoàn toàn ngược lại. 
Số đo trên đất

© Pinker et al
Bức xạ từ 1982–2002. Số đo trên đất liền bên trái (tối đi toàn cầu),
số đo trên đại dương bên phải (sáng lên toàn cầu).
 
    Kể từ năm 2000, sự tối đi đã được quan sát tại rất nhiều địa điểm, bao gồm cả Trung Quốc, Ấn Độ và toàn bộ nam bán cầu, bất chấp sự ô nhiễm do con người gây ra tương đối thấp hơn tại bán cầu ít được công nghiệp hóa hơn này. Chúng ta có thể suy ra rằng trong khi sự ô nhiễm của con người có thể ảnh hưởng tới lượng ánh sáng mặt trời đến bề mặt Trái Đất, rõ ràng nó không phải là nguyên nhân duy nhất, và ảnh hưởng của nó có lẽ là không đáng kể trong bối cảnh chung. 
    Không giống như ô nhiễm của con người, hoạt động sao chổi có thể, ít nhất là một phần, giải thích cả sự sáng lên quan sát được trên các đại dương vào thập kỷ 90 và sự tối đi toàn cầu từ năm 2000. Khoảng từ 40 đến 400 tấn vật chất vũ trụ được ước tính đi vào bầu khí quyển Trái Đất hàng ngày, hầu hết chúng đến dưới dạng bụi sao chổi. Tuy vậy, những ước tính từ nhiều năm trước này đã không kể đến sự gia tăng đột biến gần đây trong hoạt động sao chổi. 
    Nếu chúng ta tính đến sự gia tăng 655% trong số các quả cầu lửa đã được xác nhận (xem thống kê AMS ở trên) trong tám năm vừa qua, lượng bụi sao chổi đi vào bầu khí quyển Trái Đất sẽ cao hơn ước tính nói chung ít nhất là sáu lần; nghĩa là lượng bụi đi vào sẽ là khoảng từ 260 đến 2600 tấn. 
    Số lượng sao chổi được phát hiện cũng gia tăng trong những năm gần đây. Hình trên là dựa theo dữ liệu chính thức đưa ra bởi Hiệp hội Thiên văn Anh vào tháng 10/2013. Những cột màu cam thể hiện số sao chổi được xác định bởi dự án SOHO của NASA trong khi các cột màu xanh dương hiển thị tổng số sao chổi mới. Trong khi số sao chổi mới được phát hiện là gần như con số không vào đầu những năm 90 (ví dụ, chỉ có một sao chổi được phát hiện vào năm 1995, sao chổi 1995 O1 Hale-Bopp), thì đến năm 2000, có hơn 150 sao chổi mới được phát hiện mỗi năm. Con số này tăng lên 265 vào năm 2009.
    Lưu ý rằng số liệu từ năm 2009 đến 2013 chưa được hoàn thiện. Một khi cập nhật có thể con số cho những năm ấy sẽ cao hơn con số hiện tại. 

Số sao chổi được phát hiện
© Sott.net
Số sao chổi được phát hiện (1995 - 11/2013) dựa trên dữ liệu
của Hiệp hội Thiên văn Anh
    Năm 2013 được tuyên bố một cách rất hợp lý là " Năm của Sao chổi ", với số lượng lớn sao chổi hoạt động trong vùng lân cận mặt trời. Đến ngày 21/11/2013, 17 sao chổi có thể được quan sát bằng kính thiên văn nhỏ, trong đó 5 sao chổi có độ sáng từ +4 đến +7,5 (nghĩa là chúng có thể được quan sát bằng ống nhòm), và hai trong số đó (ISON và Encke) có thể được nhìn thấy bằng mắt thường. 
    Nên nhớ rằng đây chỉ là những sao chổi đã được xác định. Chúng đủ sáng để có thể được quan sát từ khoảng cách xa. Hầu hết "sao chổi" không phát sáng (như các " tiểu hành tinh ") và chúng chỉ phát sáng khi chịu stress điện gây ra bởi mặt trời khi chúng đi vào hệ mặt trời.  
    Tương quan trực tiếp với sự gia tăng trong số lượng sao chổi mới này, và cũng là một mảng bằng chứng mạnh mẽ nữa chứng tỏ sự gia tăng trong hoạt động sao chổi, là con số ngày càng tăng của các "vệ tinh" tự nhiên quay quanh các hành tinh trong Hệ Mặt Trời của chúng ta. Ví dụ, vào năm 1975, Sao Mộc có 9 vệ tinh, Sao Thổ có 10 vệ tinh và Sao Thiên Vương có 5 vệ tinh . Đến năm 2013 chúng ta quan sát thấy Sao Mộc có 67 vệ tinh, Sao Thổ có 62 vệ tinh và Sao Thiên Vương có 27 vệ tinh.
    T  ừ  những thông tin nêu trên các nhà vũ trụ học đã nêu ra những vấn đề gì liên quan đến biến đổi khí hậu:
  1. Trái Đất của chúng ta đang bước vào giai đoạn đầu của thời kỳ lạnh giá mới sẽ kéo dài không dưới hai thế kỷ.
  2. Có mối liện hệ quan trọng giữa chu kỳ Mặt Trời và khí hậu toàn cầu. Hoạt động cực đại của Mặt trời có những ảnh hưởng đến hiện tượng La Nina và El Nino ở khu vực nhiệt đới ở Thái Bình Dương có thể dọn đường cho những dự báo về nhiệt độ cũng như những kiểu thời tiết vào những thời điểm nhất định trong khoảng chu kỳ 11 năm của Mặt Trời.
  3. Chúng ta chưa thể xác định được chính xác mức độ liên hệ giữa sự gia tăng nồng độ khí cacbonic trong khí quyển và sự gia tăng nhiệt độ của Trái Đất. Mức độ gia tăng nhiệt độ toàn cầu trong thế kỷ qua vẫn nằm trong khoảng thăng giáng nhiệt độ quan sát được trong các thời kỳ trước thời đại công nghiệp.
  4. Qua các nghiên cứu về khí hậu trong các thế kỷ trước thế kỷ XX, người ta tìm ra mối tương quan lớn giữa hoạt động của Mặt Trời và nhiệt độ của Trái Đất. Sự phát xạ từ Mặt Trời (gió mặt trời và các tai lửa) biến đổi rất mạnh trong suốt chu kỳ mặt trời nhưng năng lượng của chúng không đủ để vượt qua lá chắn do từ trường trái đất tạo nên, và do đó không thể đóng vai trò trực tiếp chi phối khí hậu trái đất. Nhưng chúng lại mang theo từ trường mạnh hơn nhiều so với từ trường của lưỡng cực từ Mặt Trời, làm ảnh hưởng đến từ trường trong Thái Dương hệ và do đó ảnh hưởng đến quỹ đạo của các tia vũ trụ tới Trái Đất. Có mối tương quan giữa thông lượng tia vũ trụ với thăng giáng nhiệt độ và với lớp mây tầng thấp. Nếu xác định được sự gia tăng hoạt động của Mặt Trời làm cho thông lượng tia vũ trụ có nguồn gốc Thiên Hà đến Trái Đất giảm, dẫn đến lớp mây tầng thấp giảm thì mối tương quan của nó với sự gia tăng nhiệt độ trái đất sẽ được chứng minh.
  5. Cứ mỗi 5 – 10 thế hệ Loài Người gặp phải nguy cơ cao của những chấn động toàn cầu là do một đoàn các mảnh vụn sao chổi dẫn đến hàng loạt những vụ va chạm giữa Trái Đất với những thiên thạch có kích thước dưới 1 km. Với nguy cơ là khoảng 10%, các chấn động toàn cầu có thể dẫn đến nhiều vụ bắn phá cỡ megaton, hay suy thoái khí hậu thông qua tích lũy bụi ở tầng bình lưu, có thể dẫn tới kỷ nguyên băng hà, và có thể dẫn tới hậu quả dịch bệnh không kiểm soát được.
  6. Lượng bức xạ mặt trời đến được bề mặt Trái Đất trong 50 năm qua suy giảm trung bình toàn cầu là 2,7% cho mỗi thập kỷ. Hoạt động sao chổi có thể giải thích cả sự sáng lên quan sát được trên các đại dương vào thập kỷ 90 và sự tối đi toàn cầu từ năm 2000. Khoảng từ 40 đến 400 tấn vật chất vũ trụ được ước tính đi vào bầu khí quyển Trái Đất hàng ngày, hầu hết chúng đến dưới dạng bụi sao chổi. Số lượng sao chổi được phát hiện cũng gia tăng trong những năm gần đây có thể dẫn đến khối lượng vật chất vũ trụ thực tế đi vào bầu khí quyển Trái Đất hàng ngày cũng tăng lên.
   
    H ơn 35 năm qua một số thành tựu của khoa học và công nghệ vũ trụ đã được triển khai ứng dụng ở nước ta, đặc biệt trong các lĩnh vực thông tin liên lạc, khí tượng thủy văn, viễn thám, định vị nhờ vệ tinh, ...đã đạt được những thành quả khoa hoc – công nghệ và  kinh tế - xã hội thiết thực. Để góp phần thực hiện Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ của nước ta đến năm 2020 và những năm tiếp sau, từ  sáu vấn đề vừa nêu trên trong lĩnh vực Vũ trụ học, chúng tôi thiết nghĩ có thể đặt ra những vấn đề nghiên cứu khoa học thiết thực trong nghiên cứu khí hậu vũ trụ sau đây :
  1. Nghiên cứu xác định mối tương quan của hoạt động Mặt Trời với sự hình thành các hiện tượng ENSO trên vùng nhiệt đới Thái Bình Dương, sự biến động các hoàn lưu đại dương và các hiện tượng thời tiết, khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam.
  2. Nghiên cứu tổ chức tiến hành các quan trắc vết đen mặt trời,  bụi vũ trụ và tia vũ trụ trên khu vực khả thị ở Việt Nam nhằm phục vụ cho các nghiên cứu biến đổi khí hậu trong những thời kỳ tiếp theo.
                                                                                    TSKH. Nguyễn Xuân Huy

 

Nguồn tin: VAST

 Từ khóa: MH

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn